Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng về cơ bản đã hoàn thành các yêu cầu đề ra

23/11/2020
Sau 5 năm thực hiện, cơ cấu lại các tổ chức tín dụng về cơ bản đã hoàn thành các yêu cầu đề ra, qua đó góp phần đạt được các mục tiêu cơ cấu lại nền kinh tế của giai đoạn này.
Bank

Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 24/2016/QH14 về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, phần nội dung cơ cấu lại các tổ chức tín dụng cho thấy về cơ bản đã hoàn thành các  mục tiêu đặt ra. Theo đó trên cơ sở Nghị quyết 42/NQ-CP và Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngành Ngân hàng đã triển khai một cách quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả việc cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn liền với xử lý nợ xấu nhằm lành mạnh hóa tình hình tài chính, quản trị của các tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó, năng lực quản trị điều hành của các tổ chức tín dụng cũng từng bước được nâng cao. Hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng được xây dựng theo mô hình 3 tuyến bảo vệ phù hợp với thông lệ quốc tế mới nhất về quản trị ngân hàng và quản trị rủi ro phù hợp theo hướng dẫn của Ủy ban Basel.

Tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo được xử lý và xóa bỏ; tình trạng cổ đông/nhóm cổ đông lớn thao túng, chi phối ngân hàng về cơ bản được kiểm soát. Công tác thanh tra, giám sát, kiểm tra, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm được tăng cường, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao khả năng cảnh báo sớm đối với những rủi ro tiềm ẩn mang tính hệ thống và ngăn ngừa nguy cơ vi phạm pháp luật của các tổ chức tín dụng. Năng lực, nguồn lực của Công ty Quản lý tài sản (VAMC) để mua, bán nợ theo giá thị trường gắn với xử lý tài sản thế chấp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ nợ cũng được nâng cao.

Giai đoạn gần 5 năm qua cũng ghi nhận sự chuyển dịch ngày càng rõ nét và tích cực về cơ cấu tín dụng, theo đó tín dụng dịch chuyển nhiều hơn vào các ngành sản xuất, ngành ưu tiên, đồng thời giảm dần tín dụng cho các lĩnh vực rủi ro. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất được điều chỉnh giảm mạnh, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Từ năm 2017 đến nay, Việt Nam là một trong những nước có mức giảm lãi suất điều hành lớn, qua đó đưa lãi suất cho vay về mức trung bình so với mặt bằng của các nước có trình độ phát triển tương đồng. Đây cũng chính là một trong những mục tiêu mà Chính phủ đánh giá đã được hoàn thành theo danh sách 22 mục tiêu cụ thể đặt ra tại Nghị quyết 24/NQ-CP (phấn đấu giảm lãi suất cho vay trung bình trong nước có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình trong nhóm ASEAN-4).

Nghị quyết 24/NQ-CP cũng đưa ra một mục tiêu cụ thể khác liên quan trực tiếp đến ngành Ngân hàng là phấn đấu đến năm 2020 giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức dưới 3%. Theo nhìn nhận của các chuyên gia, thực tế nếu chỉ xét từ đầu giai đoạn đến cuối năm 2019 thì mục tiêu này cũng đã được hoàn thành. Bởi không chỉ nợ xấu đã bán cho VAMC và nợ đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ ghi nhận những chuyển biến tích cực mà tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các tổ chức tín dụng cũng liên tục cải thiện (mức 2,46% cuối năm 2016; 1,99% cuối năm 2017; 1,91% cuối năm 2018 và 1,63% cuối năm 2019).

Về an toàn của một tổ chức tín dụng, điều quan tâm nhất là nợ xấu nội bảng và với hầu hết các tổ chức tín dụng trên thế giới thì thường cố gắng giữ nợ xấu nội bảng dưới mức 3% thì hoạt động được coi là tương đối an toàn. Tại Việt Nam, mục tiêu đặt ra cao hơn là tổng nợ xấu nội bảng, nợ xấu mà tổ chức tín dụng đã bán cho VAMC nhưng đến nay chưa xử lý xong và những khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu ở mức dưới 3%.

Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 bùng phát đã và đang tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung nên sẽ kéo theo nợ xấu của các NH gia tăng. Thực tế theo báo cáo tài chính quý III/2020 công bố của nhiều tổ chức tín dụng niêm yết trên sàn chứng khoán, tỷ lệ nợ xấu đang có chiều hướng tăng mạnh và nhiều khả năng sẽ còn tăng mạnh hơn nếu diễn biến dịch Covid tiếp tục kéo  dài, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong trả nợ. Chính vì vậy, mục tiêu đưa nợ xấu xuống mức dưới 3% đang thực sự trở thành một thách thức lớn và trong báo cáo của Chính phủ, mục tiêu này được xếp ở dạng "có khả năng không hoàn thành", và cần được tiếp tục triển khai thực hiện giai đoạn sau năm 2020.

Bên cạnh các kết quả đạt được, cơ cấu lại các tổ chức tín dụng vẫn cho thấy một số hạn chế. Báo cáo của Chính phủ nêu rõ, việc triển khai áp dụng Basel II tại một số NHTM còn hạn chế; hành lang pháp lý liên quan chưa đồng bộ và chưa tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế. Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế Quốc hội cũng chỉ ra, các giải pháp triển khai để xử lý vấn đề tỷ lệ an toàn vốn của một số NHTM Nhà nước chưa hiệu quả; Việc xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42/2017/QH-14 còn vướng mắc liên quan đến việc thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm, sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương, phát triển thị trường mua bán nợ... Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của hệ thống các tổ chức tín dụng còn hạn chế do những khó khăn của nền kinh tế, còn ít các NHTM có quy mô lớn và có khả năng cạnh tranh ở tầm khu vực.

Xem thêm thông tin chi tiết và phân tích chuyên sâu về báo cáo ngành Ngân hàng Việt Nam tại: https://vietnamcredit.com.vn/products/industries/central-banking_1038#K

Theo: VietnamCredit

Bài viết liên quan
Ngành Ngân hàng Bình Định: Hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó

Ngành Ngân hàng luôn nỗ lực góp phần và đồng hành để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phòng chống dịch, tháo gỡ khó khăn, khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh, duy trì đà tăng trưởng và phát triển bền vững cho tỉnh Bình Định.
Top 10 ngân hàng Việt Nam có vốn hoá lớn nhất hiện nay

Thị trường chứng khoán Việt Nam chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ của nhóm cổ phiếu ngân hàng. Giá cổ phiếu tăng mạnh đã giúp vốn hóa của 10 ngân hàng Việt Nam tăng hơn 78.000 tỷ đồng kể từ đầu năm 2021.